Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Quy định về việc làm cỗ khao khi đỗ đạt cao

Điều 30: Các tiến sĩ và ấn quan được phong tặng, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với thượng lão. Chức tản giai từ ngũ phẩm trở lên cũng theo lệ này. Đối với phó bảng, cử nhân, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với kỳ lão. Chức tản giai từ thất phẩm trở lên cũng theo lệ này. Còn  đối với tú tài, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với hương lão. Duy chỉ có tú tài thì có lễ nghênh đón ở tỉnh. Chức tản giai từ cửu phẩm trở lênchiếu theo lệ này, đối với thông sự, ký lục và ấm sinh tiền vọng 1 nguyên, được ghi trong tế văn, đợi ngày nào nhận được phẩm hàm sắc văn, nộp tiền vọng và làm cỗ khao mới được tôn kính theo như lệ này.

Điều 31: Trong phường người nào có chuyện vui mừng, đến mời bản phường tới trợ tế hoặc dự tiệc mừng thì đều nên đến để thể hiện tình cảm thân thiết nồng hậu.

Điều 32: Phàm những người mới dự hàng hương ẩm không may có tin dữ, nghe được chuyện buồn lập tức phải đến viếng, tuỳ biện câu đối mang đến. Đến ngày đưa tang tiễn ra tận mộ. Sau này tang chủ dù có hay không làm cỗ khao, mời báo thế nào đều tuỳ ý họ. Trong đó nếu có gia đình nào giàu có nếu muốn làm lễ tang long trọng, đưa tiền cho bản phường cử người biết việc thuê mướn, phu dịch, thì bản phường sẽ theo như tấm lòng hiếu thảo của người con, thuê phu chít khăn trắng đi theo giúp việc, ngoài các nhân viên của bản phường, còn theo tục lễ của làng xóm.

Quy định về việc làm cỗ khao khi đỗ đạt cao

Điều 33: Hai đại lễ xuân thu cho phép chi tiền theo như ở trên.

Điều 34: Ngày lễ Thượng nguyên (rằm tháng giêng), lễ Trung nguyên (rằm tháng bảy), lễ dùng quả phẩm (cau hoa, hương nến), cho phép chi tiền 1 nguyên.

Điều 35: Các ngày 30 tháng 5, ngày 28 tháng 9, mồng 7 tháng 12 dùng các lễ cho phép chi tiền 3 đồng (lễ đó dùng gà 3 con, chia hai ban tả hữu, dùng thịt lợn 2 cân, cau 15 quả, xôi 5 đĩa, hương nến hoa rượu đầy đủ).

Điều 36: Các ngày mồng 3 tháng 6, mồng 7 tháng 7, mồng 7 tháng 10, lễ Thường tân tháng 8, bốn lễ này dùng các lễ cho phép chi tiền 4 đồng. Lễ Thường tân dùng lễ trước thêm chim ngói 5 con, chuối xanh hồng đỏ đầy đủ. Giỗ hậu thêm gà 1 con, vịt 1 con, vàng mã đầy đủ.

Các lễ ở trên cho phép chi tiền theo lệ, giao cho thủ từ lo liệu bày lễ cốt sao cho sạch sẽ.

Chính hát phẩm Nguyễn Văn Khánh

Cửu phẩm Bùi Xuân Đán

Bùi Tan

Bùi Huy Hâu

Phạm Tri Lễ

Cao Đức Khánh

Phạm Hoàng Trọng

Cao Ngọc Lâm

Phạm Viết Trí

Cao Ngọc Khang

Nguyễn Văn Nhàn


Những người năm vị trí khoa mục và khoa hoạn

Điều 22: Tiên chỉ thì lấy khoa mục làm trọng, nếu không có khoa mục thì do người có phẩm hàm cao nắm giữ. Đều do những người sinh sống nhiều đời tại bản phường mới được giữ vị trí này, sau đó mới đến khoa hoạn, sau nữa mới đến phẩm hàm, cuối cùng là các hương lão.

Điều 23: Viên tử viên tôn của các giáp nộp tiền vọng 5 hào được phép ghi tên vào sổ sách của phường như quê vợ, quê mẹ. Người nộp tiền vọng 1 đồng thì tăng gấp đôi. Tuy vậy giáp trưởng các giáp nên xem xét người đó như thế nào mới cho phép.

Điều 24: Giáp trưởng các giáp nộp tiền vọng 5 hào thì được đọc tên trong tế văn, người nào đã nộp trước rồi thì thôi. Trong giáp các viên hương ẩm, người nào làm thay chức giáp trưởng giáp đó thì cũng được phép.

Điều 25: Nhà chung của phường có hai ngôi nhà cho thuê, tiền thuê cấp theo thời giá, mỗi năm giao cho 1 giáp. Viên giáp trường hợp điển bạ lo việc cho thuê nhà và thu tiền. Đến cuối năm dựa tìm tính toán phân minh. Nếu trưởng phố không phải là người phường thì không cần cùng bàn. Nếu người nào bớt xén mà người bị phát hiện ra thì sẽ bị trách phạt không tha.

Điều 27: Hương lão đến 55 tuổi làm cỗ khao, tiền vọng là 4 đồng, Kỳ Uy 60 tuổi làm cỗ khao, tiền vọng 6 đồng. Còn người 70,80 tuổi làm cỗ khao, tiềnvọng 10 đồng. Bản phường nhận tiền vọng, mừng cho hương lão một đôi câu đối, kỳ lão một bài thơ, thượng lão một bức trướng thêu có chữ.

Những người năm vị trí khoa mục và khoa hoạn

Điều 28: Những người theo đuổi khoa cử từ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân,tútài, khi được báo tin mừng, thì trong ngày hôm đó các vị hương ẩm lập lức ra bến tàu hoả hoặc nhà ga xe lửa tiếp đón. Đến hôm nào các vị khoa cử tự nguyện nộp tiền vọng và cung kính làm cỗ khao, thì bản phường nhận tiền vọng thuê người (phu dịch hoặc là người Nam hay người Thanh càng tốt) mãng cờ lọng chuồng trống ra nghênh tiếp long trọng, lễ mừng tuỳ biện.

Điều 29: Các quan văn từ tứ phẩm trở lên đội ơn được phong tặng cho cha mẹ, hôm nào nộp tiền vọng và làm cỗ khao thì bản phường làm lễ nghênh đón cáo sắc như với tiến sĩ nhưng tăng gấp đôi để thể hiện sự tôn trọng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước
Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Quy định về phân công người làm lễ trong làng

 Điều 6: Phàm việc làm lễ cứ chiếu từ bàn bốn trở lên, áo mũ tề chỉnh làm lễ theo nghi thức để tỏ ý tôn kính, còn như bàn năm trở xuống, nếu cótiền vọng thì nên nghiêm chỉnh mũ áo đi theo làm giúp để tỏ ý tôn kính Nếu người nào hành lễ không đúng nghi thức phải sắm trầu rượu tạ lỗi.

Nay đạt lệ.

Điều 7: Hàng nămxuân thu hai kỳ, quý ở chỗ trên dưới hoà thuận. Phàm trong giáp nếu có người do bận việc lớn hay việc tang không thể tham dự được thì vị trí chỗ ngồi cúng tế có thể tiến hành ở chỗ khác, làm nghi thức để phong tục được tốt đẹp. Nếu người nào không giữ nghiêm phép ứng xử sẽ không tha thứ.

Nay đặt lệ.

Điều 8: Căn cứ hàng năm, lễ kỳ phúc vào hai kỳ xuân thu, nếu có ca hát thờ cúng, theo lệ có thưởng. Lệ mỗi chầu 10 quan, còn như tiền dầu đèn là do trưởng cai cho thêm mỗi đêm 1 quan, còn như cầm chầu thì từ bàn ba trở lên, không được cố chấp tranh nhau. Thảng hoặc có người uống rượu quá đà mà thất lễ, bản giáp bắt giữ phạt tiền 6 mạch, trầu rượu dâng tạ không tha.

Nay đặt lệ.

Quy định về phân công người làm lễ trong làng

Điều 9: Căn cứ hàng năm, lễ sự thần hai kỳ xuân thu có ca hát. Thảng hoặc người nào do bận việc ở bên ngoài phải canh phòng gian phi để việc thờ thần được long trọng, thì trong tộc miễn cho không phải nộp tiền lễ. Những người có việc mới được ngồi cùng. Nếu coi thường không tuân thủ sẽ bị bắt trói để giữ nghiêm lệ này.

Nay đặt lệ.

Điều 10: Việc hàng năm luân lưu làm trưởng cai đã có định lệ, từ lão bàn trở lên đến thứ bậc khác, không được sợ việc nặng xin việc nhẹ. Nếu ai dùng lời mà thoái thác xin được miễn lần mình, đến khi xác minh là đúng sự thật, kẻ bất kính đó sẽ bị bản giáp gạch bỏ họ tên để giữ nghiêm việc này.

Điều 11: Những người trong bản giáp từ 50 tuổi trở lên thăng lên bàn lão. Tiền vọng của họ là 5 quan, lễ vật tuỳ tâm. Từ sau việc đóng góp các khoản tiền nong lễ vật cùng nhưng, nhiêu được miễn trừ cho đến hết đời để làm tốt đẹp phong tục. Phàm có con trai, cháu trai hoặc con rể, con nuôi muốn nhập vào bản giáp, theo lệ số tiền nộp tuỳ vào số tiền cấp cho lễ kỳ phúc mà tính, ngoài ra còn 30 miếng trầu, 1 vò rượu. Còn như người ngoài muốn xin nhập vào, căn cứ trong giáp có người nào làm đơn xin hộ mới được cho phép. Còn như vị trí chỗ ngồi không tính trước sau cao thấp, lấy thứ bậc trong nghề làm đầu. Còn như những người ngang vai hơn kém nhau hai ba tuổi, trong số đó chọn ra vài người giao việc, quy định về năm tuy giới hạn không phải đội ơn ba đời thì không được ngổi lên bàn lão, lại có một hạng người ngoài dù chưa được ba đời nhưng có công cao đức trọng đối với bản giáp cũng đồng ý cho phép ngồi lên bàn lão để làm vẻ vang công trạng và phân biệt cao thấp. Các khoản lễ vọng của người đó đều như ở trên.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hoi lang

Lệ làng về việc phụ giúp các gia đình có tang

Điều 17: Người nào có tứ thân phụ mẫu qua đời, bản giáp biết tin lập tức đến viếng. Quay về gặp trưởng cai tại nhà, cắt cử người từ trên chí dưới, mỗi đêm trực canh 1 mâm, từ lúc truy điệu cho đến ngày tống chung làm hạn định. Nếu hiếu chủ có lời mời uống rượu thì cấp cho họ tiền tuất, cha mẹ đẻ là 3 quan, các vị tứ ân là 1 quan 8 mạch, còn thêm 10 miếng trầu, mang áo xô đứng tại tế đường hành lễ đúng nghi thức.

     Nếu hiếu chủ đưa thiếp và trầu cau nhờ khiêng quan tài hạ huyệt thì bản giáp tuỳ theo mà cắt cử người khiêng lấy quan tài nặng nhẹ làm hạn. Chỉ trừ người đó có vợ con mang thai thì thôi, còn lại hiếu chủ phải đáp tạ 50 miếng trầu. Phàm lúc tống chung đều dùng áo vải trắng để tống tiễn. Nếu ở gần thì đến trước mộ, nếu ở xa thì tính đi hết một ngày đường làm hạn, trưởng cai ứng tiền ra 1 quan cho ngày hôm đó. Bản giáp coi như tiêu vào việc chung. Nếu ngườinào bận việc đi xa xin phép vắng mặt thì phải nộp 10 miếng trầu, tiền 20 văn.

Nay đặt lệ.

Điều 18: Hai lễ lớn xuân thu chiếu bổ mỗi giáp tiền l đồng 1 hào, bắt đầu từ Mật Thái đến Phúc Lộc, nếu sau này việc mua sắm lễ vật giá cảkhông giống nhau thì tuỳ tình hình mà nộp thêm, nhưng phải đợi quay vòng các giáp một lượt mới được tính lại.

Lệ làng về việc phụ giúp các gia đình có tang

Điều 19: Mỗi khi đến kỳ lễ lớn, trước đó 3 ngày các giáp hội họp tại đình hoặc cho mời gánh hát tới, việc bổ tiền theo đầu người trước tiên bàn bạc xong sẽ do trưởng phố hoặc điển bạ đi thông báo. Đến ngày cáo yết và ngày tế chính, chức sắc khoa mục các giáp như phố trưởng giáp trưởng, phàm những người xếp vào hạng hương ẩm áo mũ tề chỉnh làm lễ. Ngày đó trong đình ai nấy đứng đúng vị trí, không được làm ầm ĩ để cho người xem thấy được sự nghiêm túc. Chỉ người nào quả thực nhà có việc bận hoặc làm quan ở xa hoặc có đại tang, mới được báo vắng mặt. Giờ tế thì buổi sáng đánh 8 tiếng chuông, buổi tối đánh 2 tiếng. Người nào vi phạm đợi sau khi lễ xong không được dự tiệc.

Điều 20: Các viên chính tế phải là tiên chỉ mới được dự, nếu viên đó quả thực có việc xin thôi, thì tới lúc làm lễ mới được chọn người thay thế.

Điều 21: Tiên chỉ thì được biếu phần đầu của con vật tế, thứ chỉ và hương lão được phần cổ, chia đều cho trưởng phố và điển bạ phần chân. Người đọc chúc từ và đông xướng được biếu 3 quả cau hoặc 5 miếng cau khô. Thịt con vật tế một nửa làm cỗ, một nửa chia đều cho những người dự tế. Đến ngày giỗ hậu và các lễ tiết, phần đầu con vật tế chia đều cho các giáp.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hội làng

Khoán lệ nghi lễ quy định thờ lễ trong năm

     Tại đình của bản phường đến lượt mỗi giáp lo 1 tháng (nếu có tháng gặp lễ lớn) ngày mồng 1 dùng 3 con gà (chia đều cho mọi người cùng thụ lộc, lễ này thì bản giáp thu). Đến ngày 15 dùng cỗ chay, xôi và trầu rượu đầy đủ, hai lễ này chi 3 quan tiền).

     Ngày thượng tuần tháng 11 năm Đinh Mùi, Tri huyện huyện Binh Lục Bùi Khánh Diễn. Thông lại huyện Mỹ Đức Bùi Tân.

     Cửu phẩm Văn giai Bùi Xuân Đán, Bùi Huy Tuấn.

     Khoán lệ gồm các điều:

Điều 1:Hàng năm hai kỳ lễ Xuân Thu, tổ chức vào tháng 2 và tháng 8, hạn trong 10 ngày đầu tháng phải họp tại nhà đương cai mới chiếu bổ tiền lễ, đến ngày 14 làm lễ Nhập tịch vào giờ Thân, kính cẩn dùng xôi rượu, mỗi thứ 3 cân, cau rượu tiền vàng các loại. Ngày 15 kính dàng lễ vật cũng như vây. Tới ngày 17 tiến hành đại lễ. Việc mua sắm tại bàn ba, biênba bàn hỗn chia ra thu tiền lễ bàn năm trở xuống. Lễ xong, người đứng  bàn năm chia cỗ theo quy định ở đây, nhập trạch 1 đĩa xôi, mỗi mâm 1 phần thịt trâu bò, hai mâm 2 phần, làm vậy để thể hiện thứ bậc rõ ràng. Nếu có chỗ sai thiếu chiêu bàn nămtrách phạt bồi thường 10 miếng trầu cau, 1 vò rượu đồ tạ lỗi.

Nay đạt lệ.

Khoán lệ nghi lễ quy định thờ lễ trong năm

Điều 2: Hàng năm người nào đến lượt luân lưu làm trưởng cai từ bàn ba trở lên, mỗi kỳ 1 người, hết lượt thì quay lại từ đầu. Phàm đến lượt người trưởng cai phải mua trầu cau làm lễ 20 miếng, lễ lớn 30 miếng, chỉ cho phép chi tiên 30 văn, trưởng cai nhận lấy không được làm cỗ khác đi.

Nay đặt lệ.

Điều 3: Mỗi tháng các ngày sóc vọng, bản giáp làm lễ thì dùng đổ chay, luân lưu thứ tự từ 15 tuổi trở lên, hết lượt thì quay lại từ đầu. Lễ xong, những đồ chay đó chia cho những người làm lễ, duy chỉ có trầu cau kính biếu bàn một mà thôi. Từ bàn hai trở xuống, lần này việc vái lạy cũng theo lệ có phân biệt. Còn như tứ thời bát tiết đều dùng xôi rượu một lượt hoặc theo nghi lễ chiếu theo lễ vật cũng được.

Nay đặt lệ.

Điều 4: Hàng năm Xuân Thu hai kỳ làm lễ, khi làm lễ hoặc mua trâu lợn, thủ của nó kính biếu bàn các bô lão, phần cổ biếu bàn một, chân biếu bàn hai bàn ba, còn phần nạm nếu có ai tham gia tế lễ đều chia làm bốn phần, thịt một phần biếu chủ tế, còn ba phần biếu những người làm lễ, nếu là lễ cáo yết thì chia đều cho trên dưới.

Nay đặt lệ.

Điều 5: Hàng năm tế văn thờ thần là quan trọng nhất. Phàm người viết văn quan hệ đến chức tước, lễ xong biếu một miếng thịt vai để tỏ lòng kính trọng.

Nay đặt lệ.


 
;