Điều 11: Hội đổng bàn việc gì phải làm thành biên bản ấy phải có chữ ký của những người nghị viên hiện tại và phải để vào công hàm lưu chiểu.
Điều 12: Người tộc biểu nào mắc bận không đến họp được phải có lời cáo để hội đồng biết, nếu ai không có duyên cớ đích thực, tự bò đến hai lần thì hội đồng bảo họ ấy cử người khác thay.
Điều 13: Đương lúc hội đồng trong làng nếu có ai theo lễ phép mà hỏi lời gì thì hội đồng cũng phải theo lễ phép mà đáp lại một cách minh bạch cho người ta biết.
Điều 14: Những người hội đổng bàn được quá nửa số người ấy họp thì đem thi hành, nếu ý kiến không hợp thì phải bỏ phiếu, phiếu của trưởng hội được kể thành hai hoặc bàn bằng cách giơ tay hoặc bàn bằng cách bỏ phiếu. Cần lúc phải bắt đầu từ tộc biểu họ nhỏ nhất bầu trước rồi dần dần đến tộc biểu họ to nhất là hết.
Điều 12: Người tộc biểu nào mắc bận không đến họp được phải có lời cáo để hội đồng biết, nếu ai không có duyên cớ đích thực, tự bò đến hai lần thì hội đồng bảo họ ấy cử người khác thay.
Điều 13: Đương lúc hội đồng trong làng nếu có ai theo lễ phép mà hỏi lời gì thì hội đồng cũng phải theo lễ phép mà đáp lại một cách minh bạch cho người ta biết.
Điều 14: Những người hội đổng bàn được quá nửa số người ấy họp thì đem thi hành, nếu ý kiến không hợp thì phải bỏ phiếu, phiếu của trưởng hội được kể thành hai hoặc bàn bằng cách giơ tay hoặc bàn bằng cách bỏ phiếu. Cần lúc phải bắt đầu từ tộc biểu họ nhỏ nhất bầu trước rồi dần dần đến tộc biểu họ to nhất là hết.
Điều 15: Khi có lệnh quan toà án hay quan cai trị cần hỏi đến làng thì hội đồng tự chọn nhiều là 2 người trong ban đi với lý trưởng.
Điều 16: Trừ ra những khi có lệnh quan trên bắt làm thì không kể, còn những quan trên hỏi ý kiến về những việc quan hệ và quyền lợi chung cả làng thì hai tộc biểu và lý trưởng không được tự quyết mà trình quan ngay, phải mời hội đồng tất cả được mọi người ấy họp rồi sẽ trình quan sau.
Điều 17: Tộc biểu và lý trưởng làm việc gì mà phải đi xa, trong khi lo việc, làng không chi lộ phí quá số ấy, như lên tỉnh mỗi người mỗi ngày chi 5 hào, hạn cho 2 ngày và lên huyện mỗi người mỗi ngày 3 hào, hạn cho một ngày là cùng.
Điều 18: Tộc biểu nếu làm việc gì trái hương ước hoặc cả hội đồng hoặc một họ nào trong làng phát giác ra thì chức sắc kỳ lão trong làng họp hội đồng mà cứu xử. Hội đồng chức sắc kỳ lão này có quyền thăm, trách hay phạt tiền từ 1 đồng cho đến 10 đồng bạc, hay là không cho dự hội đồng nữa. Người nào mất tư cách như đã nói trong điều thứ 3 hay là làm tổn hại quyền lợi của làng thì hội đổng chức sắc kỳ lão bãi chức người ấy, nếu hội đồng xử không xong hay người tộc biểu có lỗi không phục tình thì hội đồng sẽ làm biên bản trình quan.
Điều 19: Muốn cho trong làng chi tiêu có chừng mực để khỏi tổn đến dân thì phải làm sổ chi thu.
Điều 20: Thường năm cứ ngày mồng 1 tháng 11 tây, các tộc biểu hội đồng dự tính sang năm thu những tiền gì, trên những khoản gì, rồi làm thành sổ, cả hội đồng ký kết trình quan sở tại kiểm xét đệ tỉnh bẩm duyệt, để mồng 1 tháng giêng tây mới được thi hành.
Từ
khóa tìm kiếm nhiều: hương ước

