Điều 14: Đêm mồng 10 vào hội làm lễ nghênh rước: mua 2 con lợn khoảng 10 quan tiền cổ (số tiền này do bàn nhị giáp Bát ứng ra), giáp đăng cai chịu trách nhiệm trông coi). Bàn nhị thì chịu trách nhiệm mổ lợn, trung niên và con em của giáp Bát làm cỗ. Thịt lợn thì chia đểu cho 8 giáp, thủ lợn thì cho 2 giáp đăng cai, mỡ lợn thì đợi tế xong đưa cho nhà của người đăng cai chính. Mỗi giáp làm 1 cỗ xôi dâng lên, cỗ xôi hàng đầu mỗi giáp 1 mâm, cỗ cấp 3 mâm, còn cỗ hậu thần và cỗ bộ hạ thì giáp đăng cai chính chịu trách nhiệm. Tế xong thì trầu cau ờ cỗ chính biếu hội xướng tế và hội văn 3 cơi, giáp nhạc 8 cơi, ban đứng chầu 1 cơi. Còn thủ lợn biếu trưởng quan, cỗ hậu thần kính biếu bản tộc, cỗ dâng bộ hạ đưa về các giáp, còn cỗ cấp biếu trưởng quan, 2 cỗ chầu thì 1 cỗ biếu quan tự khanh, 1 cỗ thì biếu chủ tế, 1 cỗ biếu cho người giữ áo chầu, 1 cỗ biếu thủ từ 1 cỗ biếu bả lệnh. Còn bao nhiêu cỗ thì mời 3 hàng dùng. Hội văn và ban đứng chầu đều quy về các giáp. Nếu có lễ giải hạn thì lấy trước cỗ của 2 giáp đăng cai để đãi (vàng mã, trầu cau, rượu, nước, dầu, cơm thì giáp đăng cai chính chịu trách nhiệm). Lúc đó bản xã có cỗ dâng xôi gà và cỗ hậu thần đều dâng vào sáng mồng 10 (giáp đăng cai thứ chịu trách nhiệm).
Điều 15: Đêm 11 theo lệ cũ có cỗ lớn (giáp đăng cai chính chịu trách nhiệm) 2 mâm cỗ bánh trôi (26 bát gạo đầy và thêm 2 bát cỗ hậu thần do giáp đăng cai chịu trách nhiệm), 1 cỗ xôi (36 bát gạo đầy), 1 cỗ cam (140 quả và thêm cỗ hậu thần 10 quả), 1 cỗ mía (30 cây và thêm cỗ hậu thần, 10 khúc mía dài và 20 khúc mía ngắn), xôi hồng 3 bát làm 1 cỗ (3 bát gạo đầy lại thêm 1 bái hậu thun), 1 con lợn làm 3 mâm cỗ, thủ lợn đặt ở cỗ giữa. còn thịt ba chì đặt ở 2 bên trái phải, 1 cỗ quan hậu thần, 1 cỗ bộ hạ. Tại hàng đầu đặt 8 cổ của 8 giáp gồm 1 chân giò sống, 1 chân giò chín, 3 bát tiết canh, 3 cơi trầu. Quan hậu thần 1 cơi trầu, 8 hàng bộ hạ 9 cơi trầu, 9 chai rượu. Cổ lớn thì phải dâng cơm, rượu. Lễ hậu thần thì bản giáp làm 1 hát gạo trà đầy giá 2 mạch tiền cổ dâng ở đình. Mỗi cỗ được thêm 1 bát xổi đỏ, đặt 3 hộp trầu cau, các vị hậu thần cũng thêm xôi đỏ, bánh ngọt và dặt 1 hộp trầu cau, 1 hũ rượu. Tế xong, ban trực chính đem trầu cau mời mọi người ngồi y như đêm hôm trước. Ngồi trực sau khi xướng tế cũng như vậy. Theo lệ, giáp Văn hội ngồi ở hàng hương lão. Giáp Văn hội 3 cỗ, giáp Nhạc 3 cỗ, ban chầu 1 cỗ, giáp tuần đình 2 cỗ, cộng tất cả là 9 cỗ, cho thêm bả lệnh 1 cỗ, dịch phó 1 cỗ. Hạ cỗ từ giờ Mùi cho đến nửa đêm, cỗ lớn và cỗ bánh thì đưa về bản giáp. Cỗ hậu thần biếu bản tộc. Theo lệ cũ việc tuần tiết ở đình cứ mỗi đêm tế thần thì 2 giáp tuần phải áo mũ chỉnh tề, cầm gậy chầu ờ 2 bên trước đình và cầm chùy, cầm gậy chầu trước cửa trong tam quan, chớ để cho trẻ con ở xung quanh ra vào xem làm huyên náo. Nếu giáp nào vắng hoặc chậm trễ thì bắt phạt mỗi giáp 3 mạch tiền cổ (giống như loại giáp Ngạc Nhất trực mùa màng đi tuần 2 lần).
Từ
khóa tìm kiếm nhiều: hoi lang

