Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Quy định về việc làm cỗ khao khi đỗ đạt cao

Điều 30: Các tiến sĩ và ấn quan được phong tặng, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với thượng lão. Chức tản giai từ ngũ phẩm trở lên cũng theo lệ này. Đối với phó bảng, cử nhân, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với kỳ lão. Chức tản giai từ thất phẩm trở lên cũng theo lệ này. Còn  đối với tú tài, tiền vọng và lễ mừng cũng giống như với hương lão. Duy chỉ có tú tài thì có lễ nghênh đón ở tỉnh. Chức tản giai từ cửu phẩm trở lênchiếu theo lệ này, đối với thông sự, ký lục và ấm sinh tiền vọng 1 nguyên, được ghi trong tế văn, đợi ngày nào nhận được phẩm hàm sắc văn, nộp tiền vọng và làm cỗ khao mới được tôn kính theo như lệ này.

Điều 31: Trong phường người nào có chuyện vui mừng, đến mời bản phường tới trợ tế hoặc dự tiệc mừng thì đều nên đến để thể hiện tình cảm thân thiết nồng hậu.

Điều 32: Phàm những người mới dự hàng hương ẩm không may có tin dữ, nghe được chuyện buồn lập tức phải đến viếng, tuỳ biện câu đối mang đến. Đến ngày đưa tang tiễn ra tận mộ. Sau này tang chủ dù có hay không làm cỗ khao, mời báo thế nào đều tuỳ ý họ. Trong đó nếu có gia đình nào giàu có nếu muốn làm lễ tang long trọng, đưa tiền cho bản phường cử người biết việc thuê mướn, phu dịch, thì bản phường sẽ theo như tấm lòng hiếu thảo của người con, thuê phu chít khăn trắng đi theo giúp việc, ngoài các nhân viên của bản phường, còn theo tục lễ của làng xóm.

Quy định về việc làm cỗ khao khi đỗ đạt cao

Điều 33: Hai đại lễ xuân thu cho phép chi tiền theo như ở trên.

Điều 34: Ngày lễ Thượng nguyên (rằm tháng giêng), lễ Trung nguyên (rằm tháng bảy), lễ dùng quả phẩm (cau hoa, hương nến), cho phép chi tiền 1 nguyên.

Điều 35: Các ngày 30 tháng 5, ngày 28 tháng 9, mồng 7 tháng 12 dùng các lễ cho phép chi tiền 3 đồng (lễ đó dùng gà 3 con, chia hai ban tả hữu, dùng thịt lợn 2 cân, cau 15 quả, xôi 5 đĩa, hương nến hoa rượu đầy đủ).

Điều 36: Các ngày mồng 3 tháng 6, mồng 7 tháng 7, mồng 7 tháng 10, lễ Thường tân tháng 8, bốn lễ này dùng các lễ cho phép chi tiền 4 đồng. Lễ Thường tân dùng lễ trước thêm chim ngói 5 con, chuối xanh hồng đỏ đầy đủ. Giỗ hậu thêm gà 1 con, vịt 1 con, vàng mã đầy đủ.

Các lễ ở trên cho phép chi tiền theo lệ, giao cho thủ từ lo liệu bày lễ cốt sao cho sạch sẽ.

Chính hát phẩm Nguyễn Văn Khánh

Cửu phẩm Bùi Xuân Đán

Bùi Tan

Bùi Huy Hâu

Phạm Tri Lễ

Cao Đức Khánh

Phạm Hoàng Trọng

Cao Ngọc Lâm

Phạm Viết Trí

Cao Ngọc Khang

Nguyễn Văn Nhàn


Những người năm vị trí khoa mục và khoa hoạn

Điều 22: Tiên chỉ thì lấy khoa mục làm trọng, nếu không có khoa mục thì do người có phẩm hàm cao nắm giữ. Đều do những người sinh sống nhiều đời tại bản phường mới được giữ vị trí này, sau đó mới đến khoa hoạn, sau nữa mới đến phẩm hàm, cuối cùng là các hương lão.

Điều 23: Viên tử viên tôn của các giáp nộp tiền vọng 5 hào được phép ghi tên vào sổ sách của phường như quê vợ, quê mẹ. Người nộp tiền vọng 1 đồng thì tăng gấp đôi. Tuy vậy giáp trưởng các giáp nên xem xét người đó như thế nào mới cho phép.

Điều 24: Giáp trưởng các giáp nộp tiền vọng 5 hào thì được đọc tên trong tế văn, người nào đã nộp trước rồi thì thôi. Trong giáp các viên hương ẩm, người nào làm thay chức giáp trưởng giáp đó thì cũng được phép.

Điều 25: Nhà chung của phường có hai ngôi nhà cho thuê, tiền thuê cấp theo thời giá, mỗi năm giao cho 1 giáp. Viên giáp trường hợp điển bạ lo việc cho thuê nhà và thu tiền. Đến cuối năm dựa tìm tính toán phân minh. Nếu trưởng phố không phải là người phường thì không cần cùng bàn. Nếu người nào bớt xén mà người bị phát hiện ra thì sẽ bị trách phạt không tha.

Điều 27: Hương lão đến 55 tuổi làm cỗ khao, tiền vọng là 4 đồng, Kỳ Uy 60 tuổi làm cỗ khao, tiền vọng 6 đồng. Còn người 70,80 tuổi làm cỗ khao, tiềnvọng 10 đồng. Bản phường nhận tiền vọng, mừng cho hương lão một đôi câu đối, kỳ lão một bài thơ, thượng lão một bức trướng thêu có chữ.

Những người năm vị trí khoa mục và khoa hoạn

Điều 28: Những người theo đuổi khoa cử từ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân,tútài, khi được báo tin mừng, thì trong ngày hôm đó các vị hương ẩm lập lức ra bến tàu hoả hoặc nhà ga xe lửa tiếp đón. Đến hôm nào các vị khoa cử tự nguyện nộp tiền vọng và cung kính làm cỗ khao, thì bản phường nhận tiền vọng thuê người (phu dịch hoặc là người Nam hay người Thanh càng tốt) mãng cờ lọng chuồng trống ra nghênh tiếp long trọng, lễ mừng tuỳ biện.

Điều 29: Các quan văn từ tứ phẩm trở lên đội ơn được phong tặng cho cha mẹ, hôm nào nộp tiền vọng và làm cỗ khao thì bản phường làm lễ nghênh đón cáo sắc như với tiến sĩ nhưng tăng gấp đôi để thể hiện sự tôn trọng.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước
Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Quy định về phân công người làm lễ trong làng

 Điều 6: Phàm việc làm lễ cứ chiếu từ bàn bốn trở lên, áo mũ tề chỉnh làm lễ theo nghi thức để tỏ ý tôn kính, còn như bàn năm trở xuống, nếu cótiền vọng thì nên nghiêm chỉnh mũ áo đi theo làm giúp để tỏ ý tôn kính Nếu người nào hành lễ không đúng nghi thức phải sắm trầu rượu tạ lỗi.

Nay đạt lệ.

Điều 7: Hàng nămxuân thu hai kỳ, quý ở chỗ trên dưới hoà thuận. Phàm trong giáp nếu có người do bận việc lớn hay việc tang không thể tham dự được thì vị trí chỗ ngồi cúng tế có thể tiến hành ở chỗ khác, làm nghi thức để phong tục được tốt đẹp. Nếu người nào không giữ nghiêm phép ứng xử sẽ không tha thứ.

Nay đặt lệ.

Điều 8: Căn cứ hàng năm, lễ kỳ phúc vào hai kỳ xuân thu, nếu có ca hát thờ cúng, theo lệ có thưởng. Lệ mỗi chầu 10 quan, còn như tiền dầu đèn là do trưởng cai cho thêm mỗi đêm 1 quan, còn như cầm chầu thì từ bàn ba trở lên, không được cố chấp tranh nhau. Thảng hoặc có người uống rượu quá đà mà thất lễ, bản giáp bắt giữ phạt tiền 6 mạch, trầu rượu dâng tạ không tha.

Nay đặt lệ.

Quy định về phân công người làm lễ trong làng

Điều 9: Căn cứ hàng năm, lễ sự thần hai kỳ xuân thu có ca hát. Thảng hoặc người nào do bận việc ở bên ngoài phải canh phòng gian phi để việc thờ thần được long trọng, thì trong tộc miễn cho không phải nộp tiền lễ. Những người có việc mới được ngồi cùng. Nếu coi thường không tuân thủ sẽ bị bắt trói để giữ nghiêm lệ này.

Nay đặt lệ.

Điều 10: Việc hàng năm luân lưu làm trưởng cai đã có định lệ, từ lão bàn trở lên đến thứ bậc khác, không được sợ việc nặng xin việc nhẹ. Nếu ai dùng lời mà thoái thác xin được miễn lần mình, đến khi xác minh là đúng sự thật, kẻ bất kính đó sẽ bị bản giáp gạch bỏ họ tên để giữ nghiêm việc này.

Điều 11: Những người trong bản giáp từ 50 tuổi trở lên thăng lên bàn lão. Tiền vọng của họ là 5 quan, lễ vật tuỳ tâm. Từ sau việc đóng góp các khoản tiền nong lễ vật cùng nhưng, nhiêu được miễn trừ cho đến hết đời để làm tốt đẹp phong tục. Phàm có con trai, cháu trai hoặc con rể, con nuôi muốn nhập vào bản giáp, theo lệ số tiền nộp tuỳ vào số tiền cấp cho lễ kỳ phúc mà tính, ngoài ra còn 30 miếng trầu, 1 vò rượu. Còn như người ngoài muốn xin nhập vào, căn cứ trong giáp có người nào làm đơn xin hộ mới được cho phép. Còn như vị trí chỗ ngồi không tính trước sau cao thấp, lấy thứ bậc trong nghề làm đầu. Còn như những người ngang vai hơn kém nhau hai ba tuổi, trong số đó chọn ra vài người giao việc, quy định về năm tuy giới hạn không phải đội ơn ba đời thì không được ngổi lên bàn lão, lại có một hạng người ngoài dù chưa được ba đời nhưng có công cao đức trọng đối với bản giáp cũng đồng ý cho phép ngồi lên bàn lão để làm vẻ vang công trạng và phân biệt cao thấp. Các khoản lễ vọng của người đó đều như ở trên.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hoi lang

Lệ làng về việc phụ giúp các gia đình có tang

Điều 17: Người nào có tứ thân phụ mẫu qua đời, bản giáp biết tin lập tức đến viếng. Quay về gặp trưởng cai tại nhà, cắt cử người từ trên chí dưới, mỗi đêm trực canh 1 mâm, từ lúc truy điệu cho đến ngày tống chung làm hạn định. Nếu hiếu chủ có lời mời uống rượu thì cấp cho họ tiền tuất, cha mẹ đẻ là 3 quan, các vị tứ ân là 1 quan 8 mạch, còn thêm 10 miếng trầu, mang áo xô đứng tại tế đường hành lễ đúng nghi thức.

     Nếu hiếu chủ đưa thiếp và trầu cau nhờ khiêng quan tài hạ huyệt thì bản giáp tuỳ theo mà cắt cử người khiêng lấy quan tài nặng nhẹ làm hạn. Chỉ trừ người đó có vợ con mang thai thì thôi, còn lại hiếu chủ phải đáp tạ 50 miếng trầu. Phàm lúc tống chung đều dùng áo vải trắng để tống tiễn. Nếu ở gần thì đến trước mộ, nếu ở xa thì tính đi hết một ngày đường làm hạn, trưởng cai ứng tiền ra 1 quan cho ngày hôm đó. Bản giáp coi như tiêu vào việc chung. Nếu ngườinào bận việc đi xa xin phép vắng mặt thì phải nộp 10 miếng trầu, tiền 20 văn.

Nay đặt lệ.

Điều 18: Hai lễ lớn xuân thu chiếu bổ mỗi giáp tiền l đồng 1 hào, bắt đầu từ Mật Thái đến Phúc Lộc, nếu sau này việc mua sắm lễ vật giá cảkhông giống nhau thì tuỳ tình hình mà nộp thêm, nhưng phải đợi quay vòng các giáp một lượt mới được tính lại.

Lệ làng về việc phụ giúp các gia đình có tang

Điều 19: Mỗi khi đến kỳ lễ lớn, trước đó 3 ngày các giáp hội họp tại đình hoặc cho mời gánh hát tới, việc bổ tiền theo đầu người trước tiên bàn bạc xong sẽ do trưởng phố hoặc điển bạ đi thông báo. Đến ngày cáo yết và ngày tế chính, chức sắc khoa mục các giáp như phố trưởng giáp trưởng, phàm những người xếp vào hạng hương ẩm áo mũ tề chỉnh làm lễ. Ngày đó trong đình ai nấy đứng đúng vị trí, không được làm ầm ĩ để cho người xem thấy được sự nghiêm túc. Chỉ người nào quả thực nhà có việc bận hoặc làm quan ở xa hoặc có đại tang, mới được báo vắng mặt. Giờ tế thì buổi sáng đánh 8 tiếng chuông, buổi tối đánh 2 tiếng. Người nào vi phạm đợi sau khi lễ xong không được dự tiệc.

Điều 20: Các viên chính tế phải là tiên chỉ mới được dự, nếu viên đó quả thực có việc xin thôi, thì tới lúc làm lễ mới được chọn người thay thế.

Điều 21: Tiên chỉ thì được biếu phần đầu của con vật tế, thứ chỉ và hương lão được phần cổ, chia đều cho trưởng phố và điển bạ phần chân. Người đọc chúc từ và đông xướng được biếu 3 quả cau hoặc 5 miếng cau khô. Thịt con vật tế một nửa làm cỗ, một nửa chia đều cho những người dự tế. Đến ngày giỗ hậu và các lễ tiết, phần đầu con vật tế chia đều cho các giáp.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hội làng

Khoán lệ nghi lễ quy định thờ lễ trong năm

     Tại đình của bản phường đến lượt mỗi giáp lo 1 tháng (nếu có tháng gặp lễ lớn) ngày mồng 1 dùng 3 con gà (chia đều cho mọi người cùng thụ lộc, lễ này thì bản giáp thu). Đến ngày 15 dùng cỗ chay, xôi và trầu rượu đầy đủ, hai lễ này chi 3 quan tiền).

     Ngày thượng tuần tháng 11 năm Đinh Mùi, Tri huyện huyện Binh Lục Bùi Khánh Diễn. Thông lại huyện Mỹ Đức Bùi Tân.

     Cửu phẩm Văn giai Bùi Xuân Đán, Bùi Huy Tuấn.

     Khoán lệ gồm các điều:

Điều 1:Hàng năm hai kỳ lễ Xuân Thu, tổ chức vào tháng 2 và tháng 8, hạn trong 10 ngày đầu tháng phải họp tại nhà đương cai mới chiếu bổ tiền lễ, đến ngày 14 làm lễ Nhập tịch vào giờ Thân, kính cẩn dùng xôi rượu, mỗi thứ 3 cân, cau rượu tiền vàng các loại. Ngày 15 kính dàng lễ vật cũng như vây. Tới ngày 17 tiến hành đại lễ. Việc mua sắm tại bàn ba, biênba bàn hỗn chia ra thu tiền lễ bàn năm trở xuống. Lễ xong, người đứng  bàn năm chia cỗ theo quy định ở đây, nhập trạch 1 đĩa xôi, mỗi mâm 1 phần thịt trâu bò, hai mâm 2 phần, làm vậy để thể hiện thứ bậc rõ ràng. Nếu có chỗ sai thiếu chiêu bàn nămtrách phạt bồi thường 10 miếng trầu cau, 1 vò rượu đồ tạ lỗi.

Nay đạt lệ.

Khoán lệ nghi lễ quy định thờ lễ trong năm

Điều 2: Hàng năm người nào đến lượt luân lưu làm trưởng cai từ bàn ba trở lên, mỗi kỳ 1 người, hết lượt thì quay lại từ đầu. Phàm đến lượt người trưởng cai phải mua trầu cau làm lễ 20 miếng, lễ lớn 30 miếng, chỉ cho phép chi tiên 30 văn, trưởng cai nhận lấy không được làm cỗ khác đi.

Nay đặt lệ.

Điều 3: Mỗi tháng các ngày sóc vọng, bản giáp làm lễ thì dùng đổ chay, luân lưu thứ tự từ 15 tuổi trở lên, hết lượt thì quay lại từ đầu. Lễ xong, những đồ chay đó chia cho những người làm lễ, duy chỉ có trầu cau kính biếu bàn một mà thôi. Từ bàn hai trở xuống, lần này việc vái lạy cũng theo lệ có phân biệt. Còn như tứ thời bát tiết đều dùng xôi rượu một lượt hoặc theo nghi lễ chiếu theo lễ vật cũng được.

Nay đặt lệ.

Điều 4: Hàng năm Xuân Thu hai kỳ làm lễ, khi làm lễ hoặc mua trâu lợn, thủ của nó kính biếu bàn các bô lão, phần cổ biếu bàn một, chân biếu bàn hai bàn ba, còn phần nạm nếu có ai tham gia tế lễ đều chia làm bốn phần, thịt một phần biếu chủ tế, còn ba phần biếu những người làm lễ, nếu là lễ cáo yết thì chia đều cho trên dưới.

Nay đặt lệ.

Điều 5: Hàng năm tế văn thờ thần là quan trọng nhất. Phàm người viết văn quan hệ đến chức tước, lễ xong biếu một miếng thịt vai để tỏ lòng kính trọng.

Nay đặt lệ.


Các lễ vật, lễ tiết được liệt kê vào tháng giêng năm Tự Đức

     Ngày lành tháng giêng năm Tự Đức, Phúc Lộc hội họp ghi chép lại các lễ vật các tiết, lệ định bổ tiền hàng năm và bản phường luân phiên sắm lễ dâng lên đình, viên đương cai nhận, chiểu theo các quy định trong sách mà thi hành, không được thay đổi để thể hiện sự kính trọng.

Liệt kê như sau:

1. Tiết tháng giêng (các ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3, mùng 5, mùng 7) luân phiên mấy phiên mấy viên trong giáp, mỗi viên sắm lễ một ngày (trong lễ đó ban chính có gà xồi, hai ban bên phải và bên trái hoặc chân giò hoặc thịt tươi 1 cân, chia làm hai ban cũng cho phép 1000 pháo, hương nến, vàng mã hoa quả đầy đủ). Hàng năm, 5 ngày 5 viên hết lượt lại quay vòng từ đầu (đến lượt nên sắm bày nến 3 đôi, pháo 1 phong).

2. Ngày 20 tháng 2 tế Xuân, trước 1 ngày vào giờ Thân làm lễ túc yết (ban chính trầu cau rượu thịt, các ban tả hữu xồi chuối trầu rượu hương đèn đầy đỏ). Đến ngày chính giờ Mão dùng lợn nguyên con, xôi 1 mâm, hai ban dùng móng giò, xôi trầu rượu, vàng mã, hương đèn đầy đủ, quy định tiền 3 quan.Ngày mùng 5 tháng 5, ban chính bày lễ gà 1 con, hai ban xôi chuối trẩu rượu, hoa quả hương nến, quy định bổ tiền 1 quan 5 mạch.

Các lễ vật, lễ tiết được liệt kê vào tháng giêng năm Tự Đức

3. Ngày 12 tháng 8, tế Thu, chiểu theo tế Xuân mà làm, quy định tiền cũng bằng như vậy.

4. Ngày 15 (Tiết Trung thu), ban chính dùng xôi trầu cau rượu, hai ban dùng xôi chuối, trầu xanh, ba con chim ngói đầu mùa, hoa quả trầu rượu hương nến đầy đủ, quy định bổ tiền 1 quan 5 mạch.

5. Ngày 25 tháng 12 lễ Mộc dục, 2 vuông khăn đỏ (bút 2 cây, mực) vàng mã hương nến trầu rượu, câu đối đầy đủ, quy định đương trường phải lo liệu.

6. Ngày 30 làm lễ Mộc dục tại đình của bản phường, lễ này sắm 1 con gà, xôi trầu, rượu, khăn vuông đỏ 4 chiếc (trầu cau dâng trước). Đương cai thu về nhà thụ lộc (cho phép bản phường tiền từ 1 quan).

7. Ngày hôm đó bản giáp làm lễ Trừ tịch tại miếu, ban chính xôi chuối, hai ban trầu rượu làm lễ tống cựu nghênh tân. Lễ ngoài trời xôi thịt trầu rượu hương nến, pháo hai nghìn, quy định lệ tiền 1 quan 5 mạch, giao cho thủ từ tiền 1 quan mua 1 cân rưỡi dầu và lo nước uống (3 ngày).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: viec lang

Các tuần tiết phụng thờ thần linh hàng năm

     Việc thờ phụng hàng năm gồm có các tuần tiết phụng thờ thần linh:


-    Đại lễ tế xuân các bậc hiển thánh: ngày 30 tháng giêng.


-     Lễ đốt đèn Thượng nguyên: ngày 15 tháng giêng.


-    Sinh nhật Quan Thái Tử: ngày 30 tháng 5.


-   Đại lễ tế thu sinh nhật Quan Thánh: ngày 24 tháng 6.


-   Lễ đốt đèn Trung nguyên: ngày 15 tháng 7.


-    Lễ Thường tản: ngày 18 tháng 8.


-   Lẽ hậu của Bỉnh Trung công: ngày 28 tháng 9.


-    Lê Quan Thánh quy thần: ngày 7 tháng 12.

-    Giô hậu: ngày 3 tháng 6, ngày 7 tháng 7, ngày 7 tháng 10.

Các tuần tiết phụng thờ thần linh hàng năm


     Các tiết hàng năm các giáp luân lưu cúng lẻ không thay đổi: tiết Nguyên đán giáp Mật Thái, ngày mùng 2 giáp Bắc Thượng, ngày mùng 3 giáp Bắc Hạ, ngày mùng 7 giáp Nam Thượng, Lễ Đoan ngọ giáp Nam Trung, Lễ Trung thu giáp Đông Thái, lễ Mộc dục ngày 25 tháng 12 giáp Hương Tượng, lễ Trừ tịch giáp Phúc Lộc.


     Nhà nước có pháp luật, làng xóm có điều lệ, lẽ ấy là một. Các bậc tiền bối phường ta xây dựng điền lệ, lập văn bia ghi lại đầy đủ. Khoảng giữa chừng cả phường cùng bàn nhau bổ sung, đính chính đã đủ trở thành điển lộ nhưng người giữ đã để thất lạc. Nay khắp nơi mặt trời sáng tỏ, vận hội đổi mới, tình hình có điều đặc biệt, giá cả đổi thay, nếu không vì tình thế mà giản lược lời văn cho hợp thời, để khi vội vàng suy xét thì điền lệ chắc có điều chưa trọn vẹn. Nay bản phường bàn định để trình bày rõ với tiên chỉ họ Bùi, cân nhắc lệ cũ, cốt là hợp thời để cho nền nếp phong tục hoà hợp, điển lễ sao cho mạnh lễ nhạc, y quan còn mãi, danh tiếng văn vật luôn được giữ gìn, không để mất đi điều này, há chẳng phải tốt đẹp lắm sao? Lệ này viết xong, cả phường đều ký tên để thành lệ mãi mãi.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: việc làng
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Quy định về việc thực hiện điều lệ cho các xã

     Trên đây là các điều lệ, mãi làm thành thường lệ, không được vi phạm. Nếu từ nay xã nào dùng tình cảm mà thay đổi thì nguyên có đương cảnh tối linh thần chiếu giám.

     Ngày mồng 10 tháng 9 năm cảnh Thịnh thứ 3 (1795).

- Xã Hà Hồi tổng Hà Hồi gồm:

     Huyện thừa Đỗ Đình Vượng, Cựu tổng trưởng Trịnh Đình Lệ, Tri tổng Nguyễn Uông Trứ, Tổng trưởng Uông Thanh Viêm.

- Xã Đức Trạch gồm: Xã trưởng Đỗ Huy Chiếu, Đỗ Trọng Dung, Phan Trọng Hải, Phan Xuân Đán.

- Xã Phú Cốc gồm: Quan viên Nguyễn Đình Quế, Sinh đồ Nguyễn Đăng Châu, Xã trưởng Nguyễn Hữu Tố, Nguyễn Trọng Di.

- Xã Khê Hồi gồm: Sinh đồ Từ Thế Nho, Xã trưởng Từ Bá Lịch, Xã trưởng Từ Đình Luân, Khán thủ Từ Bá Chí.

- Xã Bạch Hoa gồm: Xã trưởng Hoàng Văn Dung, Đỗ Danh Mãn, Hoàng Đình Liên.

Quy định về việc thực hiện điều lệ cho các xã

- Xã Phương Quế gồm: Xã trưởng Nguyễn Đãng Trữ, Xã trưởng Ưỏng Bá Thành, Cựu xã từ Nguyễn Chức, Khán thủ Nguyễn Vãn Hội cùng toàn tổng cùng soạn lệ.

Ngày 15 tháng 3 năm Tự Đức 33 (1880) thừa sao theo chính bản.

Lý trưởng xã Đức Trạch là Phan Văn Thảo thừa sao

     Phường Hà Khẩu nay thuộc phường Hàng Chiếu quận Hoàn Kiếm. Hiện trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ 1 bản khoán lệ cổ ghi bằng chữ Hán, ký hiệu A.2650.

     Đài tựa hương lệ phường Hà Khẩu

     Lễ là thích nghi, vì tình người mà giản lược lời văn, điều cốt yếu là phải hợp thời, để cho người đời sau có thể kế thừa lâu dài được. Phường ta nằm ven phố, không như các thôn làng khác cùng chung giếng chung khe. Phàm có việc gì đều dựa vào lễ tục mà giải quyết, để lâu sẽ không xong, phàm việc gì cứ theo ý mà làm sẽ giản đơn đáng bị coi thường. Nay nhân lệ cũ mà suy xét cho hợp thời để cho đời sau vĩnh viễn noi theo, mong rằng ven phố cũng có người làm quan, cũng có điển lễ há chẳng phải là một nơi có phong tục tốt đẹp hay sao?



Từ khóa tìm kiếm nhiều: huong uoc

Quy định về làm cỗ và dùng cỗ của tổng Thường Tín

Điều 17: Các đạo sắc được phong tặng giao cho xã Phương Quế

Xã Hà Hồi theo lệ này.

Điều 18: Ảo chầu, đai khăn mũ mão để lại xã Hà Hồi anh cá giữ gìn

Xã Đức Trạch theo lệ này.

Điều 19: Hàng năm đến ngày 25 tháng 12 làm lỗ canh tịnh. Các viên mục, xã khán, thôn trưởng các xã trong tổng phải có mũ áo chỉnh tề (lên đình Hà để đón rước. Cứ theo số phần đó mà phân bổ hoặc miễn trừ.

Mỗi xã 2 người đương cai được cấp bao nhiêu đó thì mua sắm lễ vội mang đến làm lễ ở đình, ở xã Phương Quế lại cử 2 người trai tráng nữa cùng với 2 người đương cai gánh số lễ vật đó lên miếu. Nếu như ai thiếu thì phạt 2 quan 2 mạch tiền cổ.

Toàn tổng đều theo lệ này.

Quy định về làm cỗ và dùng cỗ của tổng Thường Tín

Điều 20: Hàng năm tổ chức các tiết lễ ở miếu Thượng, cỗ chay trong những ngàylễ đó nhờ xã Phương Quế chỉnh biện, giá tiền bao nhiệu sau này tùy theo số chợ để phân bổ. Nếu như thịt lợn, xôi đều do các xã (tương cai ứng trước thì xã nào mà có người vắng mặt sẽ bị phạt 3 mạch tiền cổ.

Xã Phú Cốc theo lệ này.

Điều 21: Trong tổng các sắc mục ở mỗi xã đều phải ngồi theo thứ tự. Ngồi ở miếu Thượng và ở đình Hà. cao thấp đều có thứ tự. Nếu có việc gì thì các viên mục, xã khán, thôn trưởng phải có bàn bạc, không dược giấu giếm. Những người ở bàn dưới muốn có lời thì cũng phải quy định lại, không được ồn ào. Nếu xã nào, người nào làm ồn ào thì bắt phạt lợn, rượu đáng giá 1 quan 5 mạch tiền.

Cả tổng cùng theo lệ này.

Điều 22: Nếu cỗ bàn ăn uống thì các xã chiếu theo thứ tự mà ngồi, mỗi cỗ 6 người, hàng quvết và trung nam ngồi ở dưới. Cứ có mặt là được đổi thứ tự. Nếu cỗ nào chưa đủ mà lại tranh chấp thứ tự hoặc có người nào nhìn thấy tố cáo thì sẽ bị phạt 1 quan 5 mạch tiền cổ.

Bản tổng cùng theo lệ này


Lưu ý trong việc thờ phụng và đón rước của huyện phủ Thường Tín

Điều 12: Việc thờ phụng và đón rước đều có kỳ hạn. Các viên mục, xã khấn, thôn trưởng và các trang nam, thị vệ… ở các xã đều phải mũ áo tể chỉnh có mặt ngày mồng 7 tại Hà Hồi để cùng nhau xem xét có thiếu sót gì không. Người nào nhận việc nấy, tùy theo công việc của mình mà tâp cho đúng nghi lễ. Xã nào đại khái quá hoặc người nào thiếu vắng sẽ bị phạt không tha.

Xã Phú Cốc theo lệ này.

Điều 13: Trong tổng chiếu theo các xã chia số phần như nhau: xã Hà Hồi 14 phần, xã Đức Trạch 13 phẩn, xã Phú Cốc 8 phần, xã Khô Hổi 5 phần, xã Bạch Hoa 10 phần, xã Phương Quế 7 phần. Những người này có trách nhiệm với việc thờ tự, sửa sang của bản tổng. Xã Phương Quế phải lo toàn bộ các cổng việc phân chia quét dọn vằ phục dịch trong điện trong những ngày hành lễ ở trên miếu. Nếu như có công việc phục dịch khác thì được tạm miễn cho 3 phần. Còn như việc xây dựng sắm sửa mũ, áo, cờ, quạt và các đồ tế khí khác thì tất cả đều phải chịu, không được miễn trừ.

Lưu ý trong việc thờ phụng và đón rước của huyện phủ Thường Tín

Điều 14: Hàng năm có gia bản sắc chỉ để tu sửa long cổ, áo chầu, đai khăn, kiểm tra các việc cầu mưa, tạ mưa… như việc đón rước kinh thành. Các lễ cỗ chay thì tùy theo các chợ mà phân bổ cùng chịu. Các thị vệ, trung nam cùng các xã khán, viên mục ở các xã đều phải mũ áo tề chỉnh lần lượt như lệ đón rước xướng ca. Xã nào chậm trễ, thiếu vắng cứ chiếu tội bất kính để bắt phạt.

Xã Bạch Hoa theo lệ này.

Điều 15: Nếu như có các việc sửa chữa, gia loan cầu đảo mà thánh giá ngự tại đình Hà thì các viên mục, xã khán, thôn trưởng, ở các xã trong tổng cứ thấy thông báo đến là phải tề chỉnh mũ áo đến đình Hà làm lễ như lệ ò miếu Thượng để tỏ ý kính trọng tôn thần. Nếu xã nào có người vắng mặt thì bắt phạt 1 quan tiền.

Xã Phương Quế theo lệ này.

Điều 16: Hàng năm làm lễ ở miếu Thượng, khi làm lẻ các viên mục xà Hà Hồi cùng viên mục các xã ngồi ở gian giữa dải vũ bên trái, còn hai bên trái và bên phải thì tùy theo thứ bậc mà ngồi, không được tự xếp sắp thứ tự. Nếu xã nào không tuân theo thì sẽ bị phạt không tha.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước

Những điều lưu ý khi tham gia lễ hội của các xã thuộc phủ Thường Tín

     Điều 6: Hàng năm có đón rước thánh giá, xã Hà Hồi chuyển thông báo lần lượt đến các xã trừ vụ sửa chữa đường sá. Để việc đón rước thánh giá được long trọng, nếu xã nào chậm trễ, thiếu sót, làm không đến nơi đến chốn thì bản tổng sẽ chiếu theo mà bắt phạt bò, rượu. Không tha.

Xã Khê Hồi theo lộ này.

     Điều 7: Hàng năm xã Hà Hồi xướng ca mãn nguyệt, nghênh tống thì viên mục các xã trong tổng mặc áo xanh, hàng quyết dùng khăn màu đỏ dài 5 thước, váy quấn dùng lĩnh đen, hạng trung nam tất cả áo, ngựa đều dùng màu lòng trứng, mọi người đều cầm đồ nghi vệ tế khí để tỏ ý kính trọng tôn thần như hàng mẫu đứng từ chỗ thánh giá đến xã Hà Hồi đầu tiên, sau lần lượt đến các xã Đức Trạch, Phú Cốc, Khê Hồi, Bạch Hoa, Phương Quê. .. mỗi xã có một cái trõng theo thứ tự mà đi, không đươc ồn ào thất lễ. Nếu xã nào xem thường, chậm trễ thiếu sót thì bản tổng sẽ bắt phạt bò. rượu. Không tha.

Xã Bạch Hoa theo lệ này.

Những điều lưu ý khi tham gia lễ hội của các xã thuộc phủ Thường Tín

     Điều 8: Hàng năm xã Hà Hồi xướng ca mãn nguyệt, đón rước thánh giá vào sáng sớm ngày mồng 10 tháng 8. Các xã trong bản tổng khi nghe thấv tiếng chiêng, tiếng trống phát hiện đánh xong thì tất cả phải đem nghi vệ tựu tại đình Hà để cùng đón rước thánh giá. Nếu xã nào xem thường, chậm trễ hoặc vắng mặt thì bản tổng sẽ chiếu tội bất kính để phạt.

Xã Phương Quế theo lệ này.

      Điều 9: Tháng 8 hàng năm xã Hà Hồi xướng ca mãn nguyệt, ngày ấy bản tổng phụng sự việc xem múa rối nước, ở bên phải quan sở thì chiếu theo thứ tự mà ngồi. Cuộc xem này tùy theo kỹ xảo mà thưởng cho họ. Cỗ chay đều do xã Hà Hồi lo liệu và tiền sắm sửa lễ hội.

      Điều l0: Xà Hà Hồi xướng ca mãn nguyệt vào ngày 25 tháng 8 thì các xã trong tổng phụng nghênh yến lễ, chiếu theo thứ tự mà ngồi. Đình trên lấy lông hạc làm mốc, xã Phú Cốc giáp xã Hà Hồi, xã Bạch Hoa giáp xã Phú Cốc. Đình dưới cũng lấy lồng hạc làm mốc, xã Khê Hồi giáp xã Đức Trạch, xã Phương Quế giáp xã Khê Hồi, không được tự xếp thứ tự. Cỗ bàn, uống rượu cũng tại đấy. Nếu thưởng cho người hát cũng thưởng theo thứ tự.

Xã Khê Hồi theo lệ này.

      Điều 11: Hàng năm các tiết xướng ca, nghênh tống thánh giá đều đặt ở miếu Thượng, làm lễ tạ xong thì phát hiệu ba tiếng để các xã chấn chỉnh lại nghi vệ đón rước long xa về đình Hà. Trước khi làm lễ tạ, hô y như ờ điện Thượng. Lễ xong các xã rước về bản đình, không được làm sai quy định. Nếu xã nào không tuân theo sẽ bị xử phạt không tha.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hội làng

Năm điều đầu bài tựa của Huyện thừa Đỗ Đình Vượng

     Huyện thừa Đỗ Đình Vượng soạn bài tựa.

     Từng nghe! Việc tôn thần không trước được việc lễ. Muốn để lại cho đời tất phải ghi rõ vào sách vở. Sáu xã ở tổng ta sống liền nhau một dải, cùng chung hưởng phong cảnh đẹp của trời Nam.

     Kính nghĩ! Trời sinh bậc thánh thần, từ trấn Bắc đến trấn Nam. Khu ta cũng được xây dựng lên. Từ xưa tới nay việc cúng tế cầu nguyện rất được linh ứng, vậy nên 6 xã ta một lòng trai tịnh thừa tự những điều được truyền lại trong sách vở từ hàng trăm năm nay, bởi lẽ những điều thừa tự này đều từ đó mà có vậy. Cho đến nay, sách vở để lại thì hư hỏng, rách nát bởi thế cho nên làm việc mà không biết ngọn nguồn của việc làm, vì vậy cần phải chỉnh đốn tập hợp lại và quy định thời gian để cùng nhau hội họp tại đình Hà để bàn bạc. Rồi phải tham khảo các lệ cũ tập hợp thành một tập để làm sáng rõ các phép thờ phụng và cùng được thần che chở giúp.

     Vì những lẽ đó mà phải làm lệ, tổng cộng 23 điều được liệt kê dưới đây:

Năm điều đầu bài tựa của Huyện thừa Đỗ Đình Vượng

     Điều 1: Tháng giêng hàng năm từ tết Nguyên đán đến ngày mồng 4, các lễ đèn nhang, cỗ chay được chỉnh biện, đến khi lễ xong thì được thụ khánh. Làm tại xã Phương Quế để tiện việc thờ phụng.

     Xã Hà Hồi theo lệ này.

     Điều 2: Ngày tế xuân 19 tháng 2 hàng năm các viên muc, xa khan, thôn trưởng ở các xã phải ăn mặc tế chỉnh tựu tại miếu Thượng làm lễ theo đúng nghi thức để bày tỏ tấm lòng tôn kính. Đem số tiềngóp, thu lại cho đủ số lượng. Nếu xã nào có người vắng mặt thi phải nộp 1 quan tiền,

     Điều 3: Lễ miếu Thượng hàng năm thì xã Hạ Hồi viết vần và lo quan 1 người, còn các viên mục chấp sự thì tùy chọn; số người còn lại thì làm bồi tế đế tỏ ý kính trọng tôn thần. Nếu xã nào làm sơ lược, không đúng nghi thức thì tùy theo nặng nhẹ mà làm lễ tạ.

    Xã Đức Trạch theo lệ này.

     Điều 4: Hàng năm các tiết lễ miếu Thượng giao cho xã đương cai được biếu tư văn mỗi xã 1 phần, tế quan 1 phần, viết ván 1 phán, đọc ván 1 phán, thư dịch 1 phần, thư từ 1 phần, hoặc làm cỗ thì cứ 10 cỗ nhập trạch cỗ, bả hộ 1 cỗ, còn lại chiếu theo số lượng chia đều. Nếu thiếu phần nào kiểm tra lại thì đương cai phải chịu, lập tức bắt nộp 1 quan tiền.

     Xã Phú Cốc theo lệ này.

     Điều 5: Hàng năm có phụng sự xướng ca, chỉ có xã Hà Hồi được dự, được đón Thánh vị, còn các xã khác trong tổng cứ thấy đi qua đến mình thì đi tiếp theo, không được vượt lên trước, nếu xã nào xướng ca thì cứ ở tại đình làng mình, không được tự tiện đón Thánh vị.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hoi lang
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Các lệ tục cúng tại miếu tai hai xã Gian Xá và Lưu Xá

    Thời xưa nay Giang Xá, Lưu Xá hai xã thờ chung một miếu, mỗi một năm là một xã chính tiệc. Xã nhà nguyên 8 giáp 8 phiên đều có ruộng Công, nên lệ tiệc tố tự về giáp thì trích ruộng của giáp, về phiên thì trích ruộng của phiên sửa lễ không phải bổ bán đóng góp gì, quanh năm những ngày nào tiệc lệ chiếu tục đã định ở sau:

     Tháng giêng lễ Nguyên đán ba ngày ở miếu, ngày mồng 1 thôn trưởng phải sửa 2 cái giò, 2 đấu xôi, 2 be rượu, 2 cơi trầu bày ra hai bên: một bên tống cựu, một bên nghênh tân. Lại phải lễ trên cung 1 cân xôi, 10 bát chè, khai rượu, 1 nai chuối, 1 cơi trầu, cả dân lễ rồi cùng ăn uống. Ngày mồng 2, ngày mồng 3 sửa lỗ trên cung cũng thế.

     Tiệc lễ động thổ sớm ngày mồng 4: Thôn trưởng sửa l chai rượu, 1 cơi trẩu, cả dân ra miếu lễ rồi sức tuần tráng luân phiên gọi là động thổ. Đến trưa, tế khánh hạ ở đình, hàng lệnh sửa lễ: gà 2 cân, xôi 2 cân, rượu 2 chai, trầu 100 khẩu, cả dân tế rồi cùng uống rượu ở đình.

     Tiệc Thánh Mẫu ngày mồng 10 tháng giêng, giáp nào giáp ấy tuỳ nghi sửa lỗ. Đàn ông đàn bà ai đến 50 tuổi ngày hôm ấy phải sửa 1 cơi trầu, 30 khẩu nói với giáp để vào sổ đóng tiền.

Các lệ tục cúng tại miếu tai hai xã Gian Xá và Lưu Xá

     Tiệc nghênh thần sáng ngày 12, Bích Thượng giáp lễ tế nghênh ở mùa hạ, lễ rồi 2 người thể sát, 4 người cán viên phải trông nom xếp đặt hàng đợi, các chức dịch đổ nào đổ ấy thứ tự hai hàng cho nghiêm trang rồi hiệu phụng nghênh thánh giá, trưa đến trung đồ, hàng thôn trưởng sửa lễ: lợn 1 con, xôi 6 cân, rượu 2 chai, trầu 100 khẩu. Chủ tế thì thôn Đông, thôn Tư, thồn Mai. Tế xong vật một lúc, vật xong rồi người thủ hiệu trống lên để thể sát, cán viên, hàng đô, các chức dịch đôi đấy đều lại nghiêm trang như trước, phụng nghênh thánh giá nửa đêm đến đình sở Bích Hạ, bốn giáp sửa lẻ tế yên vị. Chủ tế thì giáp Tư, giáp Năm, giáp Bảy, thay phiên nhau làm.

     Bản lệ thờ của tổng Hà Hồi phủ Thường Tín, nay thuộc các xã Hà Hồi, Liên Phương huyện Thường Tín. Nguyên bản chữ Hán, chép trong sách Hà Hồi tổng sự lệ, hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.739.


Sự khao vọng và các điều lệ Thi hành khoán ước

    Theo thói quen ai làm quan chức danh phận thường hay mở tiệc mời đãi dân làng ăn uống xa phí thật là vô ích. Nay làng định chiết can lấy tiền sung quỹ. (để làm việc công ích cho được tiện lợi).

    Ai làm quan văn từ tri huyện trở lên, võ từ ngũ phẩm trở lên đều chiết can 30 đổng vào quỹ rồi làng trích tiền quỹ 4 đồng sửa lê mừng cho trọng sự thể.

    Ai làm Chánh phó tổng và người được thưởng hàm thất bát cửu phẩm, thiên bách hộ, suất đội, thông ký, thừa phái, giáo học, tổng soái hoặc người thi đỗ trung học tốt nghiệp trở lên đều chiết can 20 đồng vào quỹ rồi làng trích tiền quỹ 2 đồng sửa lễ mừng.

    Ai làm chánh phó lý và đội trưởng, ngũ trưởng, dịch mục đều chiết can 10 đổng vào quỹ.

    Ai làm hương trưởng, tuần xã, thủ lộ đều chiết can 5 đồng vào quỹ.

Sự khao vọng và các điều lệ Thi hành khoán ước

    Khi nào làng có việc công tiêu to, cần phải dùng tiền nhiều, nếu ai muốn mua tự văn phải chiết can nộp 40 đồng vào quỹ, ai làm chánh phó tổng lý hương dịch 6 năm cho một ngôi nhiêu, người được nhiêu ấy muốn để cho con hay cháu cũng được nhưng phải chiết can 20 đồng bạc vào quỹ.

    Ai đến 60 tuổi, mồng 4 tháng giêng sửa 30 khẩu trầu trình hội đồng để tương hạn lão nhiêu.

    Ai đến 80 tuổi trở lên làng mừng một cái áo lụa đỏ.

    Thứ vị đình trong dè nhương một chiếu lớn các quan hành chính văn từ tứ phẩm ấn quan, vồ từ chia làm 4 dòng Một dòng chức sắc, khoa mục tổng lý. kỳ mục; một (lòng kỳ lão; một dòng tư văn; một dòng hương lão hương dịch. Ai dự dòng nao chiếu theo thứ tự, hơn ngồi trên, kém ngồi dưới, ai vượt thứ phạt I hao vào quỹ.

    Tế rồi một chiếu tôn các quan chức sắc khoa mục bảy, tám mươi trở lên lễ chiếu nhất, tư vãn hội đồng lý dịch lục thiệp trở lên lễ chiếu hai, đại hạ lễ chiếu ba.

    Kể từ ngày thi hành hương ước này, các điều lệ cũ trái với khoán ước này đều bỏ đi.

    Trong làng ai trái khoán nức như lỗi nàng thì hội đổng cấm không cho dự đình trung tế tự 1 năm, lỏi nhẹ thì 6 tháng.

    Hàng năm đến 12 tháng giông, thư ký đem hương ước này đọc một lần cho cả dân đều nghe.

    Lập thành ngày mồng 8 tháng 10 nam Khai Định 5 (1920)

    Thừa sao bản chính hương ước.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: viec lang

Sự tế lễ trong năm của làng

     Lễ sóc vọng chu niên mỗi tháng mỗi giáp phải sửa trầu rượu hoa quả để làm lễ.

     Ngày tết Nguyên đán thôn trưởng sửa hai lễ gà xôi trầu rượu, lễ tống cựu nghênh tân và xôi chè lễ ở cung, lễ rồi dân ai ra lễ thì thụ phúc.

     Năm nào vào đại đám ngày 12 tháng giêng nhập tịch nghênh thần, bốn giáp Bích Thượng sửa lễ tế nghênh, xôi lợn trầu rượu. Khi tế giáp đông chù chén nhất, bốn giáp Bích Hạ sửa lẻ tế yên vị xôi lợn trầu rượu. Khi tố giáp  chú chén nhất, tế rồi bích nào bích ấy ănuống- Còn tế trung đổ thôn trưởng sửa lẽ xối trầu rượu; tế rồi hội đồng kỳ mục ăn uống với nhau, còn cỏ chay thờ đem bánh dày với chè giáp nào phải sửa tế xong trả giáp ấy. Đến hôm xuất tịch tám giáp sửa lễ xôi lợn trầu rượu tế tạ, phụng nghênh thánh giá vè miếu. Năm nào không vào đại đám hôm 12 các giáp sửa lẻ xổi gà tố miếu mà thôi.

Sự tế lễ trong năm của làng

     Tiệc hoá nhật ngày mồng 2 tháng 5 và tiệc sinh nhật 20 tháng 9, các giáp cũng sửa lỗ xôi lợn trầu rượu tế rồi giáp nào ăn giáp ấy.

     Xuân thu nhị kỳ tám phiên cùng sửa lễ xôi, lợn, trầu rượu tế rồi phiên nào đem phiên ấy ăn uống.

     Tiệc kỳ phúc tháng 4 và tiệc xôi mới, mỗi tiệc thủ từ và thổn trưởng mỗi người phải sửa 1 lễ xôi gà trầu rượu để tế. Còn tư gia ai có lòng thành tuỳ tình, thế nào cũng cứ hôm ấy ra lễ cả, không được để đến hôm khác và cấm không được làm cỗ bàn xa xỉ như trước nữa.

     Tiệc mồng 10 tháng 3, thủ từ sửa lễ trà oản trầu rượu ờ miếu, lễ rồi cả dân cùng thụ phúc.

     Áo chầu tám giáp luân lưu phải sửa may mỗi giáp một năm hết lượt lại bắt đầu.

     Việc tả vãn thi khoa mục hoặc chức sắc hoặc tổng lý ai hơn thì viết, nếu những người ấy có duyên cớ gì thì tư văn hội tả tại đình.

     Mỗi năm đến mồng 4 tháng giêng tế khánh hạ, lệnh trưởng sửa lễ xôi gà trầu rượu, lễ rồi cả dân cùng ăn uống. Giáp Đông, giáp Tu, giáp Hai giáp mỗi giáp cử 1 người chủ tế, còn 6 giáp cử 6 người bồi tế, cử rồi dẫn trình hội đồng xét lại, nếu ai không xứng đáng thì phải cử người khác thay.

    Mỗi năm hội đồng xét trong hàng tư văn chọn lấy 15 người sung việc hành lễ, những người ấy chỉnh bị y quan, hễ có tiệc thì phải ra tế, nếu ai có duyên cớ gì phải trình hội đồng cử người khác thay.

    Khi tế từ viên chủ tế trở xuống ai thất lẻ nghi phạt 1 hào vào quỹ.

     Năm nào làng vào đại đám phải cắt thể sát, cán biện, hàng đó đi phụng nghênh.

     Tiệc hoá nhật tế rồi biếu chủ văn 1 cái thủ lợn, biếu khoá mục, chức sắc, phẩm hàm, thiên bách hộ 1 cái nầm (một người thì ăn cả, nhiều người thì chia nhau), biếu chánh phó tổng, chánh phó lý mỗi người 1 cái giò, tiên thứ, cai binh, cai trạm, hương trưởng mỗi người 1 miếng thịt (đài 5 tấc, rộng 3 tấc). Còn tư văn, hàng lễ mỗi người 1 khẩu trầu.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: việc làng

Hương ước về sự hương dịch, hôn lễ, tang lễ trong làng

Sự hương dịch

Mỗi giáp cắt một người thôn trưởng (trừ giáo giáp ngoại) để khi tế tự trông nom sửa sang tế khí và ứng cấp việc thờ. Cứ hai năm một khoá làng giao cho thôn trưởng 1 sào ruộng công để mua rượu tế quanh năm.

Mỗi năm mỗi phiên cắt 1 người cai phiên (trừ giáo giáp ngoại) để ứng tạm trong phiên và chứa xuân thu nhị tế, cùng trông nom trong làng khi vào đám.

Mồi năm cắt 8 người lềnh trưởng chia làm 8 phiếu (trừ giáo giúp ngoai) để canh trạm, canh đẽ cùng trần thiết bái vọng cung ứng thảo mà dài tái quan vật.

Mỗi năm cất 32 người phiên để canh phòng. Cứ mồng 9 thăng 2 các trường phiên phải kê tính danh trong phiên trình hội đồng rồitrướng cùng với hội đồng chọn.

Hương ước về sự hương dịch, hôn lễ, tang lễ trong làng

Sự hôn lễ

Một ai có con gái lấy chồng trong làng phải nộp cheo 2 đồng bạc, như lấy chồng làng khác phải nộp 4 đồng vào quỹ.

Làng đã thu tiền treo rồi cấm không ai được giăng dây đóng cọc làm cản trở người ta nữa. Nếu ai phạm phạt 1 đồng vào quỹ.

Sự tang lễ

Tang là sự buồn rầu đau đớn, nhà người ta theo thói quen đật tiệc mời khách thực là trái nhẽ, nay làng bỏ thói tệ ấy.

Tang chủ nếu giàu có muốn mời mấy người thân tộc hộ lễ thì cũng mặc lòng nhưng coi là việc riêng nhà tang, không được theo thói cũ mà mời kỳ mục, tư văn.

Tang chủ chỉ đãi những người hộ lễ và những người giúp việc, không cho mở tiệc mời làng.

Trước khi chưa táng dân làng đến phúng chỉ dùng hương hoa mà thôi.

Đến ngày an táng chủ ởgiáp nào thì mời giáp ấy hộ táng, nghĩa là khiêng quan tài và mang các đồ táng nghi.

Hàng giáp đưa ma trả nghĩa lân nhiêu, chính bổn phận mình phải làm, trừ những người vắng nhà còn thì phải đi tất cả, nếu ai ở nhà không đi phạt 3 hào.

Tang chủ cũng nên báo cho dân làng đều biết ngày an táng để ai nhớ tình hương đảng thì đi đưa ma, nhưng báo hay không báo thì tuỳ ý tang chú.

Dù ai trong giáp hay người ngoài làng cũng vậy khi an táng xong thì chào tang chú ngay ngoài mộ địa rồi đâu về đấy ngay không nên vào nhà tang chủ ăn uống.

Tang chủ cũng nên tạ ơn hàng giáp hay người đi đưa ngay ngoài mộ địa, không được mời khách về nhà.

Tang chủ muốn để danh dự cho người chết mà gửi một món tiền ký niệm làm của công trong làng thì làng cũng nhận món tiền ấy, nhiều ít tuỳ lòng tang chủ.

Làng sẽ làm một quyển sổ để biên những món tiền kỷ niệm ấy lưu truyền về sau.

Làng chỉ được đem những món tiền ấy làm việc ích lợi chung cả làng.

Sự gửi tiền kỷ niệm là tuỳ lòng tang chủ, làng không bắt ai cũng đều phải nộp.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: huong uoc

Quy định về ruộng đất, ngụ cư trong làng

Dạy trẻ con có học thức phổ thông là nghĩa vụ làm phụ huynh, không ai được từ vậy. Làng cũng nên lập một trường ấu học để dạytrẻ con trong làng. Nhưng nay tiền công còn ít chưa lập được trường thì nhà ai có con đúng 8 tuổi hãy tạm cho đi học ở trường tổng sư.


Khinào đã lập được trường, thường năm trích tiền công chi tiêu  việc  trường  và cấp  lương thầy giáo.


Làng trích tiền công mua bút giấy cấp cho  những con nhà  giáo  nghèo mà hội đồng xét thực không thể mua được.


Ngụ cư kỷ táng


Làng chỉ người nào có căn cước minh bạch và nghề nghiệp chính đáng ngụ  cư trong làng mà thôi.


Trừ ra những  người ngụ cư tạm còn người đã  có gia sản ở.


Ai ký táng ở đồngtiền của làng  dù mua đất của ai cũng phải  trình hội  đồng biếtvà nộp tiền kiểm cố cho làng 3 đồng bạc.


Những tư Hạch của làng hội đống phải làm một quyển sổ tử diên hiện rõ của lừng người ở  xứ nào, trong tây nam bắc cận ai, dài rộng bao nhiêu, ruộng đất ấy của phụ tổ di lại hay là ngườiấy mói tạo. Quyển sổ ấy để ở công hàm khi nào cổ ai mua bán, hai bên phải đền trình hội đồng vào sổ, sang tôn rỏi lý trưởng mới được nhận thực vào văn tự cho đi trước bạ.



Quy định về ruộng đất, ngụ cư trong làng


Làng để 1 mẫu 2 sào cổng điền giao táng nhân, thủ tự quản nhận, sửa dầu hương đình miếu quanh năm.


Làng đổ 3 mẫu cổng điền giao tăng nhân, thủ tự quản nhận sửa lễ sóc vọng hai chùa và dầu hương quanh năm.


Làng trích lấy 4 mẫu 5 sào 5 thước thốn ruộng binh và 3 sào ruộng bò, trạm cũ 2 sào, cộng lại là 5 mẫu thước thốn. Mỗi năm đến rằm tháng 10 đấu giá 1 lần lấy tiền sung quỹ.


Ai đấugiáp hiến ruộng nào phải làm giây tình nguyện, khim ở phiếu ai được phải giao tiền ngay cho thủquỹ lấy biên lai. Nếu ai đấu được giá cao mà bỏ không nạp tiền, hội đồng phạt 1 đồng bạc mà cấm không cho dự đình trung tế tự trong 6 tháng.


Những ruộng của các phiên các giáp bao nhiêu  cứ theo như cũ nhưng  mỗi phiên  mỗi năm phải  nộp chiết can tiền đắp đường  vào quỹ năm đồng bạc, trừ phiên bên giáo ra.



Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Quy định về bảo quản của công xã Giang xá

Điều 91: Gọi là của chung cả làng thì người trong làng ai cũng có nghĩa vụ phải giữ. Nếu ai làm tổn hại thì phải bồi thường.
Điều 92: Khi làng có bán động sản, bất động sản thì hội đồng phải đấu giá, cần nhưng phải yết thị cho mọi người đều biết trước khi đấu giá 10 ngày.
Điều 93: Ai đấu giá cao thì được nhưng hội đồng phải làm biên bản và đính theo giấy tình nguyện để lưu chiếu, sợ xét gian lậu.
Điều 94: Những điều chính phủ đã có lệnh cấm như rượu lậu, thuốc và mở sòng cờ bạc lấy hồ thì hội đồng phải khám xét luân trong làng để trừ gian lậu.
Điều 95: Ai cố ý phạm cấm hội đồng không thể khuyên ngăn được thì phải bảo lý trưởng bắt tang vật làm biên bản giải trình quan trên trừng trị.
Điều 96: Những người phạm cấm dù quan đã chiếu luật trị tội nhung làm mất phong thể trong làng thì hội đồng cấm không cho dự đình tỉ ung. tế tự một năm.
Điều 97: Theo ihói quen khi có quan khách đến làng chỉ lý phó đương thứ ra. nếu đi vùng thì quan khách không biết hỏi ai, như thế thì không tiện. Nay định giao việc ấy cho các người hội đổng.

Quy định về bảo quản của công xã Giang xá

Điều 98: Không cứ quan tây hay quan ta nếu có đến làng thì tuần phải đi báo cho những người có chân hội đồng.
Điều 99: Các người hội đổng và chánh phó lý phải lấy lễ nghi chính đáng mà tiếp tại sở công, nếu quan khách muốn khám xét nhà nào thì hội đổng phải dần khám. Nếu có sự gì ngăn trở hội đổng phải giữ gìn cho được ổn thỏa, khi ở địa giới làng có người ốm đau hay bị nạn gì, hội đồng nghe tin báo phái đến tận nơi liệu phương kế mà cứu giúp ngay.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước
 
;